Hiển thị các bài đăng có nhãn CRM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CRM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Tìm hiểu về công nghệ Mifare, thẻ thông minh không tiếp xúc



MIFARE là nhãn hiệu thương mại của NXP Semiconductors, và nó được xem như là một công nghệ giao tiếp không tiếp xúc thành công nhất trên thế giới. MIFARE là công nghệ đọc thẻ không tiếp xúc hoạt động tại tần số 13.56MHz.

MIFARE được xem như là một công nghệ “thẻ thông minh” - dựa vào khả năng đọc và ghi dữ liệu lên thẻ. Trong thực tế, MIFARE hoàn toàn là một thẻ nhớ.

Đặc điểm kỹ thuật

Khoảng cách đọc thẻ: Khoảng cách từ thiết bị đọc thẻ và thẻ Mifare để thực hiện được một giao dịch là 2.5 cm đến 10 cm.

Dung lượng nhớ:
  • Thẻ Mifare Ultralight với dung lượng nhớ 512 byte.
  • Thẻ Mifare S50 với dung lượng nhớ 1 K.
  • Thẻ Mifare S70 với dung lượng nhớ 4 K.

Cấu trúc
Thẻ MIFARE có nhiều sector riêng biệt nhau (tuỳ theo dung lượng), những sector này có thể được lập trình như một ví tiền điện tử hay có thể sử dụng cho mục đích lưu trữ dữ liệu chung.

Sector đầu tiên được sử dụng đặc trưng như một thư mục chứa các phần còn lại của thẻ, những phần còn lại có thể sử dụng cho lưu trữ dữ liệu hoặc như một ví tiền điện tử.

Các ứng dụng có thể được thực hiện
Chíp mifare chuẩn có thể hỗ trợ 16 ứng dụng khác nhau trên một thẻ Mifare. Những ứng dụng này được phân biệt và bảo mật bằng những mật mã khác nhau cho mỗi sector. Chỉ có yêu cầu được đặt ra là các nhà cung cấp ứng dụng khác nhau phải hợp tác trong việc lập trình thư mục ứng dụng Mifare MAD (MIFARE Applications Directory) và mật mã để sử dụng thư mục này phải được cho phép đến tất cả nhà cung cấp ứng dụng.

Mã hoá dữ liệu
Truyền dữ liệu thông qua tần số giữa thẻ và thiết bị đọc thẻ được mã hóa. Tuy nhiên, dữ liệu được lưu trữ trên thẻ không được mã hóa. Việc truy cập đến dữ liệu này được bảo vệ bởi một mật mã, bởi vậy nó chỉ được đọc bởi thiết bị đọc có mật mã giống nhau.


Công nghệ MIFARE cho phép chứng thực quan hệ giữa thẻ và thiết bị đọc thẻ. Một số ngẫu nhiên được phát ra dựa trên mật mã, một thông báo sẽ được gửi từ thẻ đến thiết bị đọc thẻ. Thiết bị đọc cũng thực hiện công việc giống như thế đối với thẻ. Điều này được thực hiện 3 lần để chứng thực thẻ hiện tại là hợp lệ.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG: NGHỀ ĐẦY TIỀM NĂNG




Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, một đội ngũ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp, năng động là lợi thế của hầu hết các công ty. Họ là những người trực tiếp làm hài lòng khách hàng và xây dựng hình ảnh tốt đẹp về công ty. Nghề chăm sóc khách hàng (Customer Care hay Customer Service) đang phát triển nhanh với những Call Center lớn đang mọc nhanh tại những quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Philippines... Đây là nghề có rất nhiều tiềm năng phát triển tại Việt Nam khi nhu cầu hội nhập của nước ta với thế giới ngày càng gia tăng. Vậy công việc thường nhật của một nhân viên chăm sóc khách hàng là gì và họ phải chịu những áp lực ra sao trong quá trình làm việc.

Những điều khách hàng cần hỏi khi mua sản phẩm dịch vụ là rất nhiều và gần như vô tận. Vì vậy, hệ thống chăm sóc khách hàng dựa trên thiết bị công nghệ hiện đại, theo một quy trình tận tình, chuyên nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết với các nhà kinh doanh.



Hệ thống chăm sóc khách hàng hiện đại (Call Center hay Contact Center) là khu vực ngập trong các dữ liệu, bao gồm thông tin của khách hàng (được tổng hợp từ các cuộc điện thoại, email, fax), các thông tin về đặt hàng, hóa đơn, chi tiết sử dụng dịch vụ và mua hàng… Hệ thống Contact Center mới được xây dựng trên nền công nghệ IP còn tích hợp tất cả các phần mềm quản lý liên quan của mỗi DN, để có thể trợ giúp để chăm sóc khách hàng như: CRM, ERP...

Một call agent (nhân viên chăm sóc khách hàng trong hệ thống Call Center và Contact Center) có thể ngồi trong khu vực ngập tràn dữ liệu đó, và trả lời khách hàng bất cứ thông tin gì họ cần, qua điện thoại, qua email, qua fax, qua text chat, hay thậm chí là voice chat, truyền hình di động... Điều quan trọng là sau đó, tất cả đều được hệ thống lưu giữ, đánh giá, phân tích và xuất ra báo cáo tổng kết.

Kỹ năng yêu cầu đối với các call agent không quá phức tạp. Làm việc trên điện thoại và máy tính nối mạng, các nhân viên này cần các kỹ năng sau: Khả năng giao tiếp, nói lưu loát, tuân thủ các nguyên tắc về chăm sóc khách hàng, sử dụng thành thạo máy tính và ngoại ngữ (nếu để phục vụ các khách hàng nước ngoài).
Thị trường trong nước đang mở rộng hàng ngày, các công nghệ tiên tiến về viễn thông, Internet, băng thông, truyền hình, vệ tinh cũng đang phát triển không ngừng, là những điều kiện thuận lợi đầy tiềm năng để các dịch vụ như thế này phát triển mạnh mẽ.



Tiềm năng nữa là bởi đối với nhân sự làm nghề này có thể làm việc từ xa, có thể làm việc bán thời gian và không giới hạn độ tuổi hay hình thức bên ngoài. Nếu được đào tạo kỹ lưỡng, nếu có định hướng rõ ràng từ các DN, nếu có chính sách hỗ trợ từ chính phủ... dịch vụ này rất có cơ hội để bùng nổ và nghề này sẽ trở thành một nghề mới hấp dẫn với nhiều lao động trẻ của Việt Nam.

Và ai dám chắc rằng nghề này tại Việt Nam sẽ không tạo ra một sức hấp dẫn kỳ lạ như ở Ấn Độ và Philippines? Ấn Độ hiện có khoảng 400 trung tâm chăm sóc khách hàng (call center). Năm 2004, doanh thu của nghề này mang lại cho Ấn Độ 5 tỷ USD. Nghề chăm sóc khách hàng đang được xem như một "ngành công nghiệp" mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất cho nước này. Dự kiến, công việc này sẽ tạo ra thêm 2 triệu lao động cho Ấn Độ vào năm 2008.

Còn tại Philippines, chưa trở thành phong trào rầm rộ như Ấn Độ, nhưng trong 5 năm qua, số người làm việc trong các trung tâm hỗ trợ khách hàng tại Philippines đã tăng gấp 100 lần, từ 2.000 người lên 200.000 người, và doanh số họ đạt được là 1,7 tỷ USD.

Tại Việt Nam, để phát triển mô hình Call/Contact Center, tiếng Anh sẽ là vấn đề khó nhất. Tiếp đó là vấn đề hạ tầng. Chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng đa phần là giao tiếp thời gian thực, nhiều nhất vẫn là qua điện thoại, trong khi đó cước viễn thông của Việt Nam vẫn còn cao, còn nếu là các cuộc gọi VoIP thì băng thông lại trở thành rào cản.



- Call Center (trung tâm cuộc gọi): nhiều nhân viên ngồi bên điện thoại để trả lời các cuộc gọi của khách hàng. 
- Contact Center (trung tâm liên lạc): nơi xử lý các cuộc gọi qua hệ thống điện thoại truyền thống, xử lý e-mail, các liên lạc truyền thông trực tuyến và kể cả thư viết tay. 
- Các Call Center xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. 
- Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về số lượng Call Center. Lý do là đa số người tiêu dùng Mỹ thích mua bán hàng hóa và dịch vụ qua điện thoại hoặc Internet (đang chiếm tới 70% các giao dịch). Hiện ở Mỹ có tới trên 50.000 Call Center, với số nhân viên khoảng 6 triệu người. 
- Dịch vụ này cũng rất phát triển tại Anh, Úc và Canada. Vài năm gần đây, dịch vụ này đã chuyển sang các nước đang phát triển.

Theo VietNamNet